Đá mi sàng là gì? Cỡ hạt, cách dùng và tính tiền theo khối
Nguyễn Hữu Tài ·

Đá mi sàng là đá nghiền đã qua sàng phân cỡ, loại bên tôi có hạt 3–14mm. Vật liệu này dùng cho lớp lót, một số cấp phối bê tông và gạch không nung. Anh chị cần phân biệt nó với mi bụi 0–5mm và đá cấp phối 0–40mm. Tôi có 11 năm phụ trách việc nhận hàng và xuất vật tư tại kho Quận 6. Khi nhận yêu cầu mua đá, tôi cần biết anh chị làm nền, trộn bê tông hay rải lối đi. Mỗi việc cần cách chọn hạt và tính số khối riêng.
Đá mi sàng khác mi bụi và đá 0x4 thế nào?
Anh chị nhìn một nắm đá sẽ thấy từng hạt nhỏ, góc cạnh và mặt vỡ do nghiền. Sàng giúp tách các nhóm kích thước. Đá đã sàng vẫn cần kiểm tra bụi bám, đất cục và tạp chất lúc giao.

Ở kho, tôi ghi cả tên hàng lẫn khoảng cỡ hạt lên đơn. Khách gọi đá mi sàn hay mi sàn thì cần xác nhận lại đúng loại 3–14mm. Tên gọi mi chung chung chưa đủ để xuất hàng.
| Loại vật liệu | Cỡ hạt theo bảng hàng | Điểm cần phân biệt | Giá niêm yết |
|---|---|---|---|
| Mi đã sàng xanh Biên Hòa | 3–14mm | Hạt nhỏ nhìn rõ, đã phân cỡ | 380.000đ/m³ |
| Mi bụi xanh Biên Hòa | 0–5mm | Có phần hạt mịn và bột đá | 380.000đ/m³ |
| Đá 0x4 xanh Biên Hòa | 0–40mm | Dải hạt rộng, gồm phần mịn và hạt lớn | Liên hệ báo giá |
| Đá 1×2 xanh Biên Hòa | 10–20mm | Cỡ hạt lớn hơn, dùng trong cấp phối bê tông | 450.000đ/m³ |
Hai loại mi đang cùng giá niêm yết nhưng không thay thế cho nhau chỉ vì bằng tiền. Loại bụi có nhiều phần mịn hơn. Đá 0x4 lại có cả hạt lớn tới 40mm trong quy cách bán hàng.
Khi cần một dải hạt cụ thể, anh chị gửi yêu cầu cho kho trước lúc xếp xe. Không chọn bằng màu xanh đậm hoặc nhạt trên ảnh. Màu đá không chứng minh được độ sạch hay khả năng chịu lực.
Danh mục vật liệu xây dựng có các nhóm cát, đá và xi măng để anh chị đối chiếu tên hàng. Ghi đúng quy cách giúp người nhận hàng kiểm lại được ngay tại bãi.
Chọn loại hạt theo lớp nền, gạch và đường nội bộ
Tôi thường hỏi lớp đá sẽ nằm dưới vật liệu gì và có xe chạy lên hay không. Cùng một sân nhà, chỗ đi bộ khác với đường bánh xe tải. Không thể chọn loại đá chỉ theo diện tích cần phủ.
Lót nền và san lấp
Mi hạt nhỏ có thể dùng cho lớp lót khi phương án thi công chọn đúng vật liệu này. Trước khi rải phải xử lý nền yếu, lấy cao độ và xác định chiều dày từng lớp. Đổ dày một lượt rồi đầm trên mặt dễ bỏ sót phần phía dưới.
Với khoảng san lấp sâu, anh chị nên so chi phí của từng phương án vật liệu được thợ chấp thuận. Đừng dùng toàn bộ đá nhỏ chỉ vì thấy dễ xúc. Cần chốt đường thoát nước và kiểm tra độ chặt của nền hoàn thành.
Bê tông lót và gạch không nung
Hạt 3–14mm có thể tham gia cấp phối bê tông mác thấp hoặc bê tông lót đã được xác định. Gạch không nung cũng cần lựa chọn dải hạt phù hợp với khuôn và quy trình ép. Hai công việc này không dùng chung một tỷ lệ trộn mặc định.
Với sàn, dầm hay cột, phải lấy loại cốt liệu theo thiết kế và cấp phối được duyệt. Đá 1×2 xanh Biên Hòa đổ bê tông có quy cách 10–20mm để anh chị đối chiếu yêu cầu. Đổi sang hạt nhỏ hơn cần kiểm tra lại cấp phối.
Cát và đá tạo phần cốt liệu trong bê tông, còn hồ xi măng liên kết các hạt. Anh chị có thể xem phần giới thiệu thành phần tại Concrete (Wikipedia). Tỷ lệ trộn cho công trình vẫn cần lấy từ hồ sơ cấp phối của công việc đó.
Rải đường nội bộ
Rải một lớp mi rời không có nghĩa đường đã chịu được xe nặng. Hạt nhỏ dễ bị bánh xe xô khi lớp mặt thiếu liên kết. Đường cần phương án nền, lớp móng, chiều dày và thoát nước phù hợp tải sử dụng.
Nếu chỉ sửa lối đi trong sân, hãy mô tả nền hiện có và vị trí đọng nước cho thợ. Chỗ trũng phải được xử lý trước khi bù đá. Rải thêm lên vũng bùn thường khiến anh chị phải mua bù tiếp.
Tính số khối cho nền và một mét khối bê tông
Tôi tách lượng đá rời trên xe khỏi thể tích lớp nền đã đầm. Hai con số này thường bị ghi chung thành khối đá. Anh chị nên ghi rõ trạng thái vật liệu ngay cạnh đơn vị m³.

Ví dụ một sân rộng 4 × 10 m có diện tích 40 m². Giả sử phương án chọn lớp đá sau đầm dày 8 cm, tức 0,08 m. Thể tích hoàn thành là 40 × 0,08 = 3,2 m³.
3,2 m³ sau đầm chưa phải lượng đá rời cần đặt. Để quy đổi, thợ cần số liệu đầm thử hoặc hệ số đã xác nhận cho vật liệu thực giao. Tôi không tự cộng một tỷ lệ cố định cho mọi bãi đá.
Chẳng hạn, nếu đầm thử cho hệ số quy đổi 1,20 thì phép tính là 3,2 × 1,20 = 3,84 m³. Đây là ví dụ số học với hệ số giả định. Chưa có kết quả kiểm tra thì chưa dùng 3,84 m³ làm lượng đặt chính thức.
Với nhà cần nâng nền, bài bóc vật tư sửa chữa nhà cấp 4 minh họa cách tách các lớp và phần việc. Anh chị cần đo cả cao độ cửa và miệng thoát trước khi tính đá.
Định mức đá mi cho 1 m³ bê tông lấy ở đâu?
Lượng đá cho 1 m³ bê tông phải lấy từ cấp phối đã chọn. Không có một số khối chung chỉ dựa vào tên vật liệu. Phiếu cấp phối cần thể hiện lượng xi măng, cát, từng nhóm đá và nước.
Giả sử phiếu cho một công việc ghi 1.050 kg mi cho 1 m³ bê tông. Nếu khối lượng thể tích rời đo được là 1.500 kg/m³, lượng quy đổi bằng 1.050 ÷ 1.500 = 0,70 m³. Hai số đầu là giả định minh họa cách đổi đơn vị.
Với 5 m³ bê tông cùng cấp phối giả định, phần mi cần 5 × 0,70 = 3,50 m³ rời. Không lấy ví dụ này để tự pha bê tông chịu lực. Cũng không cộng thể tích cát, đá và nước rời để suy ra thể tích thành phẩm.
Khi nhận đá ướt, anh chị báo người phụ trách trộn để kiểm tra lượng nước trong cốt liệu. Đừng đổ thêm nước chỉ vì mẻ đầu thấy khó đảo. Sai lượng nước có thể làm thay đổi chất lượng bê tông.
Giá theo m³ tại Bình Chánh, Bình Tân và Cần Giờ
Giá niêm yết của Đá mi sàng xanh Biên Hòa (3–14mm) là 380.000đ/m³. Anh chị cần xác nhận cước đến vị trí đổ trước khi đặt chuyến. Tên khu vực trên sản phẩm chưa phải báo giá trọn gói cho mọi địa chỉ.
Lấy đơn 3 m³ làm ví dụ, tiền đá là 3 × 380.000 = 1.140.000đ. Nếu đặt 5 m³, tiền đá là 1.900.000đ. Các phép tính này mới có tiền hàng theo giá niêm yết.
| Nơi nhận | Giá hàng dùng để dự tính | Phần cần xác nhận khi báo chuyến |
|---|---|---|
| Bình Tân | 380.000đ/m³ | Xe vào tới bãi hay cần trung chuyển trong hẻm |
| Bình Chánh | 380.000đ/m³ | Địa chỉ cụ thể, đường vào và tổng lượng đặt |
| Cần Giờ | 380.000đ/m³ | Liên hệ báo giá cước, lịch xe và điểm dỡ |
Bảng dùng cùng giá hàng để anh chị tách phần vận chuyển. Cước từng chuyến cần báo riêng theo điểm nhận thực tế. Thuế, bốc xếp và trung chuyển phải được ghi rõ đã gồm hay chưa.
Hai báo giá chỉ so được khi cùng loại đá, đơn vị và điểm giao. Một bên đổ ngoài đường, bên kia chuyển vào sân thì tổng tiền khác nhau. Tôi cần anh chị xác nhận điểm dỡ trước khi tính đủ tiền đơn.
Cửa hàng vật tư nhận đơn online cũng cần thể hiện rõ các khoản này. Khi xây dựng website bán hàng, nên có ô nhập số m³, địa chỉ và điều kiện xe vào. Khách gửi đủ thông tin thì người bán mới tính được cước đến công trình.
Kiểm tra đá sạch trước khi cho xe đổ
Tôi muốn người nhận nhìn hàng trước lúc tài xế nâng ben. Chuẩn bị một khay sạch để xem mẫu từ các vị trí lấy mẫu an toàn. Một nắm trên mặt chưa đại diện được toàn bộ chuyến đá.

- Đối chiếu mẫu đã chốt với hàng giao. Nhìn cỡ hạt lớn, hạt nhỏ và lượng bột mịn bám quanh.
- Tìm đất cục, rễ cây, gỗ mục hoặc mảnh gạch lẫn trong đá. Chụp rõ các tạp chất thấy được.
- Cho một ít mẫu vào lọ trong có nước sạch rồi lắc. Quan sát bụi và bùn tách ra để sàng lọc ban đầu.
- Nếu có lớp bám bất thường, giữ mẫu và trao đổi với kho trước khi trộn. Công việc có yêu cầu kỹ thuật cần kiểm nghiệm theo hồ sơ.
Nước đục sau khi lắc chưa cho biết chính xác hàm lượng bùn hoặc sét. Bột đá cũng làm nước đục. Cách nhìn mẫu tại chỗ giúp phát hiện vấn đề rõ ràng, không thay phép thử vật liệu.
Với đơn dùng cho bê tông, cần đối chiếu hồ sơ cốt liệu và kết quả thử theo yêu cầu công trình. Không xác nhận đá đạt chỉ bằng việc bóp tay hoặc nhìn màu. Lô nghi ngờ nên để riêng chờ xử lý.
Bãi chứa phải được quét sạch, ngăn với đất đào và cát. Nếu cần lót bạt, chọn chỗ không có nước bẩn chảy vào. Đá sạch lúc xuống xe vẫn có thể lẫn bùn nếu đổ sát rãnh nước.
Xe giao mấy khối và nhận hàng trong hẻm
Anh chị có thể gửi yêu cầu 1 m³, 3 m³ hoặc 5 m³ để bên tôi tính chuyến. Lượng đặt không đồng nghĩa mỗi xe đều chở được số đó. Phải kiểm tra tải trọng xe, đường vào và vị trí dỡ hàng.

Hẻm rộng 3 m vẫn có thể vướng góc cua hoặc mái hiên thấp. Anh chị chụp từ đầu hẻm tới cửa nhà, thêm đoạn hẹp và chỗ quay đầu. Nếu xe không vào được, cần xác nhận phương tiện cùng chi phí trung chuyển.
Đừng mặc định xe ba gác có thể chở vài khối đá một lần. Đá nặng, phải chia lượng theo tải trọng cho phép của phương tiện. Kho cần thống nhất số lượt để thợ không chờ vật tư giữa buổi.
Khi nhận theo thể tích thùng, hai bên phải thống nhất cách đo từ trước. Chiều dài và rộng đo bên trong; chiều cao lấy theo mặt hàng đã san bằng. Thùng có vách nghiêng cần tính đúng hình dạng, không nhân như hộp chữ nhật.
Nếu giao theo cân, đối chiếu phiếu cân xe có hàng với xe rỗng. Muốn đổi từ tấn sang m³ phải có khối lượng thể tích rời phù hợp. Tôi không quy đổi mặc định một tấn thành một khối.
Chốt người nhận, chỗ đổ và giờ thợ cần dùng trước khi xe chạy. Đơn bị sai loại phải báo ngay lúc kiểm hàng. Giữ phiếu giao và ảnh mẫu giúp bên tôi đối chiếu rõ phần cần xử lý.
Câu hỏi thường gặp
Đá mi sàng có thay hoàn toàn cát xây tô được không?
Không nên thay trực tiếp. Loại hạt 3–14mm lớn hơn nhiều phần cát dùng cho vữa xây tô. Cấp phối vữa cần cốt liệu phù hợp với chiều dày mạch và lớp trát. Anh chị ghi riêng cát xây tô trên đơn. Nếu muốn dùng cát nghiền, phải chọn đúng quy cách và yêu cầu kỹ thuật của vữa.
Cứ mua 1 m³ đá là làm được 1 m³ nền sau đầm?
Không lấy hai thể tích bằng nhau. Đá giao rời có khoảng rỗng giữa các hạt, sau đầm thể tích thay đổi. Anh chị tính lớp nền hoàn thành bằng diện tích nhân chiều dày. Sau đó dùng hệ số đã kiểm tra cho vật liệu và cách đầm thực tế để tính lượng giao.
Đơn 3 m³ giao Cần Giờ có giá 1.140.000đ trọn gói không?
1.140.000đ mới là tiền 3 m³ đá theo mức niêm yết 380.000đ/m³. Cần xác nhận thêm cước, bốc xếp, trung chuyển và thuế trước khi đặt. Anh chị gửi địa chỉ cùng ảnh đường vào để kho báo đủ các khoản. Chỉ chốt chuyến khi đã thống nhất lượng hàng, điểm đổ và tổng tiền.




